Chương 2: Các Loại Hình Doanh Nghiệp

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Chương 2: Các Loại Hình Doanh Nghiệp

Bài gửi by handoi0702 on Thu Sep 17, 2009 5:16 pm

Bài Tập: Bạn hãy nghiên cứu Luật Kinh Doanh của VN để
xem có bao nhiêu loại hình doanh nghiệp cùng các ưu, nhược điểm của mỗi
loại. Bạn có một tuần để viết báo cáo này và gửi về cho giảng viên qua
email, theo hạn chót nộp bài trong chương trình chi tiết.

I. Dẫn nhập


Người VN mình khi nói đến làm thương mại thường nghĩ đến tự mình bỏ
tiền vốn ra và tự mình làm chủ. Đó là hình thức làm thương mại đơn giản
nhất. Nhưng sau khi Đổi Mới
và nền kinh tế tập trung đang tiến sang kinh tế thị trường, doanh nhân
VN có nhiều cơ hội và chọn lựa khác nhau để chọn cho mình một mô hình
kinh doanh thích hợp nhất.

Tại các nước theo kinh tế thị trường, các mô hình kinh doanh được
trình bày trong chương này là những mô hình tiêu biểu; mô hình nào cũng
có ưu điểm và nhược điểm, và doanh nhân cần nghiên cứu kỹ lưỡng để chọn
cho mình một mô hình phù hợp.

Những mô hình trong bài này là những mô hình đang được áp dụng tại
Mỹ, và do đó, chắc chắn sẽ có những khác biệt với môi trường kinh
doanh, luật lệ tại VN, và nên được sử dụng để đối chiếu và so sánh với
thực tế tại VN mà thôi.

II. Doanh nghiệp Tư Nhân (sole proprietorship)


Doanh Nghiệp Tư Nhân là loại hình doanh nghiệp đơn giản nhất, tức là
tự mình làm chủ (tại Mỹ loại hình này chiếm tới 2/3 số doanh nghiệp),
thành ra rất dễ thành lập, hễ có vốn và có óc kinh doanh là mở được
doanh nghiệp.

Lợi điểm chính của loại hình này, như đã nói, là dễ thành lập, thứ
hai là không chung đụng, hùn hạp phải có giao kèo lôi thôi tới ai, lời
thì ăn, lỗ thì chịu. Chủ nhân đóng thuế thu nhập cá nhân ngay trên thu
nhập của doanh nghiệp.

Nhược điểm chính của doanh nghiệp tư nhân là chủ nhân hoàn toàn chịu
trách nhiệm về bất cứ rủi ro hay thua lỗ khi điều hành doanh nghiệp.
Giả sử doanh nghiệp bị thua lỗ đến phá sản (bankruptcy), chủ nhân vẫn
hoàn toàn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và vẫn bị thưa kiện nếu
không trả được các món nợ này. Nhược điểm thứ hai là khả năng kêu vốn
hạn chế trong vòng quen biết; nếu muốn vay mượn ngân hàng thì phải có
tài sản thế chấp cao. Sau cùng là sự thiếu liên tục nếu chẳng may chủ
doanh nghiệp qua đời hay không còn tiếp tục điều hành doanh nghiệp được
nữa.

III. Doanh nghiệp Hợp Danh (partnerships - Hùn hạp)


Doanh nghiệp Hợp Danh là một loại doanh nghiệp có từ hai người trở
lên, đồng ý hùn vốn để kinh doanh. Tất cả thành viên của doanh nghiệp
loại này cùng có quyền kiểm soát hoạt động và chia lợi nhuận do doanh
nghiệp mang lại.

Lợi điểm chính của loại hình này là dễ thành lập. Các thành viên chỉ
cần đồng ý và ký với nhau một bản thỏa thuận về các vấn đề như phần hùn
và trách nhiệm của mỗi bên. Tại Mỹ, loại hình này còn có một lợi điểm
nữa khiến cho nhiều doanh nhân lựa chọn loại này; đó là doanh nghiệp
không bị đánh thuế thu nhập của Liên Bang. Lợi nhuận của mỗi thành viên
trở thành thu nhập của mỗi người, và chỉ bị đóng thuế thu nhập trên căn
bản cá nhân mà thôi.

Nhược điểm chính của loại hình này là các thành viên hợp danh cùng
chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp, nói một cách khác, tài
sản riêng của mỗi thành viên có thể bị chủ nợ (của doanh nghiệp) sai áp
khi doanh nghiệp không đủ khả năng trả nợ.

IV. Doanh nghiệp Hợp Danh Trách nhiệm hữu hạn (Hợp Danh TNHH) (Limited Partnerships)


Doanh nghiệp Hợp Danh TNHH gồm có một thành viên chính và một hay
nhiều thành viên có trách nhiệm hữu hạn. Thành viên chính lãnh trách
nhiệm điều hành doanh nghiệp cùng các trái khoản (tiền nợ) của doanh
nghiệp. Các thành viên trách nhiệm hữu hạn không có quyền tham gia vào
việc điều hành doanh nghiệp, và cũng không chịu trách nhiệm về các trái
khoản lớn hơn số vốn họ đã bỏ ra.

Lợi điểm chính của loại hình này là trách nhiệm hữu hạn về trái
khoản. Các thành viên TNHH của doanh nghiệp loại này phải thỏa thuận
trước về mức rủi ro tài chánh tối đa có thể xảy ra, đồng thời xác định
số vốn mỗi thành viên TNHH phải đóng góp vào doanh nghiệp là bao nhiêu.

Tại Mỹ, doanh nghiệp loại này phải đăng ký với tiểu bang để lấy Giấy
Chứng nhận Doanh nghiệp HDTNHH xác nhận sự thỏa thuận của các thành
viên như đã nói trong đoạn trên.

Khi doanh nghiệp bị giải tán vì một lý do nào đó, thành viên TNHH có
quyền rút lại số vốn đã đóng góp theo hợp đồng được ghi nhận trong Giấy
Chứng nhận.

V. Công Ty Cổ Phần (corporations)


Công ty cổ phần là hình thức doanh nghiệp phổ thông nhất trong các loại hình doanh nghiệp. Công ty do các cổ đông làm
chủ (cổ đông là những người mua cổ phần của công ty). Cổ đông bầu ra
một hội đồng quản trị (Board of Directors) và HĐQT sẽ thuê người điều
hành doanh nghiệp.

Ưu điểm chính của loại hình công ty là các cổ đông chỉ bị trách
nhiệm hữu hạn về các trái khoản (nợ) của công ty theo tỷ lệ của số tiền
đầu tư (mua cổ phần) mà thôi. Tài sản cá nhân của cổ đông không dính
dáng đến doanh nghiệp. Sau khi thành lập thì công ty tự nó là một tư
cách pháp nhân và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tài chánh cũng như luật
pháp. Nếu công ty có bị phá sản thì chủ nợ không thể đòi nợ từ các cổ
đông. Ưu điểm thứ hai là khả năng gây vốn. Công ty có thể gây thêm vốn
bằng cách bán thêm cổ phần của công ty cho các nhà đầu tư.

Nhược điểm chính của công ty (theo luật của Mỹ) là bị đánh thuế hai
lần. Công ty là một pháp nhân phải đóng thuế thu nhập của công ty. Phần
lời của công ty chia lại cho các cổ đông, còn gọi là cổ tức
(dividend) lại bị đóng thuế thu nhập cá nhân của mỗi cổ đông. Thí dụ
chúng ta mua 1.000 cổ phần của công ty Coca Cola có tổng số 100.000 cổ
phần, có nghĩa là chúng ta làm chủ 1% của toàn công ty. Khi tổng kết
tài khóa hàng năm, Coca Cola phải đóng thuế thu nhập trên số lời của
toàn công ty. Số lời còn lại sau khi đóng thuế sẽ được chia cho các cổ
đông. Số lời này được xem là lợi tức của cá nhân cổ đông và phải đóng
thuế lợi tức trên số tiền này.

Tại Mỹ còn có một loại hình công ty gọi là S-Corporation; đăng ký
theo hình thức này thì công ty không bị đánh thuế lợi tức, chỉ khi nào
tiền lời chia lại cho cổ đông thì cổ đông mới đóng lợi tức mà thôi.

VI. Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (TNHH) (Limited Liability Corporations)


Công ty TNHH khác với công ty cổ phần ở chỗ chủ nhân công ty không
nhất thiết là cổ đông mà có thể gồm một hay nhiều thành viên như doanh
nghiệp Hợp Danh. Các thành viên của công ty có thể tham gia trực tiếp
vào việc quản trị công ty mà không cần Hội đồng Quản trị.

Ưu điểm của công ty TNHH là không bị đánh thuế kép (cũng giống như
S-Corporation). Tại nhiều tiểu bang (Mỹ) công ty TNHH chỉ cần một người
đứng ra đăng ký cũng đủ. Ưu điểm thứ hai là trách nhiệm chỉ giới hạn
trong số tiền đầu tư của thành viên mà thôi, cũng như không bị trách
nhiệm khi công ty bị thưa kiện.

Nhược điểm của công ty TNHH là khó gây vốn và không thể bán cổ phiếu như công ty cổ phần để gây vốn.

VII. Kết luận


Như trên đã trình bày, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu
điểm và nhược điểm. Doanh nhân cần căn cứ trên khả năng, nhu cầu cùng
sự tiên liệu về mức độ phát triển trong tương lai của doanh nghiệp hầu
chọn cho mình một mô hình thích hợp. Mặc dù luật về doanh nghiệp của
mỗi nước có những khác biệt, nhưng nói chung, trong thời buổi toàn cầu
hóa và kinh tế thị trường, các loại hình này đều có nhiều điểm tương
đồng để các đối tác ngoại quốc dễ giao dịch, nhất là để biết trách
nhiệm pháp lý của mỗi bên như thế nào khi có tranh tụng.



_________________
Người đẹp không tự sinh ra cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển từ tay đại gia này sang tay đại gia khác !
TYPN: tôi yêu phụ nữ

handoi0702
(¯`°•†Hận†•°´¯)
(¯`°•†Hận†•°´¯)

Nam
Tổng số bài gửi: 240
Age: 24
Đến từ:: hell
Sở thích:: chiem ngưỡng cái đẹp
Nickname:: vinhkhanh0702
Tên thật: Vĩnh Khánh
ĐT: 0543541416
01689906574
Danh tiếng:: 13066

Xem lý lịch thành viên http://nguyenthevinhkhanh.gso-ecom.com/buss/home/Home.aspx

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết